Giới thiệu về ICT và các lĩnh vực ngành nghề liên quan

Công nghệ Thông tin - IT (theo wikipedia)

Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.


Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".

Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)."
Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính.



Công nghệ thông tin và truyền thông - ICT (theo wikipedia)



Công nghệ thông tin và truyền thông, thường được gọi là ICT, là cụm từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho công nghệ thông tin (IT), nhưng thường là một thuật ngữ chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông (đường dây điện thoại và tín hiệu không dây), hệ thống quản lý tòa nhà thông minh và hệ thống nghe-nhìn trong công nghệ thông tin hiện đại. ICT bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính, liên lạc trung gian cũng như là các phần mềm cần thiết. Mặt khác, ICT bao gồm IT cũng như là điện thoại, phương tiện truyền thông, tất cả các loại xử lý âm thanh và video, điều khiển dựa trên truyền tải và mạng và các chức năng giám sát. Cách diễn tả này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1997 trong một báo cáo của Dennis Stevenson gửi chính phủ Anh và được lan truyền rộng rãi trong các tài liệu mới của Chương trình giảng dạy Quốc gia Anh vào năm 2000.
ICT thường được sử dụng trong "lộ trình ICT" (ICT roadmap) để trình bày đường lối phát triển cho những tổ chức có các nhu cầu về công nghệ thông tin và truyền thông.

Cụm từ ICT giờ đây cũng được sử dụng để ám chỉ đến sự gắn kết của nghe-nhìn và mạng điện thoại với mạng máy tính qua một đường dây đơn hoặc hệ thống liên kết. Có những biện pháp khuyến khích kinh tế lớn (tiết kiệm được một số tiền khổng lồ qua việc loại trừ mạng điện thoại) để kết hợp nghe nhìn, quản lý tòa nhà và mạng điện thoại với hệ thống mạng máy tính sử dụng một hệ thống cáp thống nhất, phân phối và quản lý tín hiệu. Điều này dần dần đã thúc đẩy sự tăng trưởng của các tổ chức với cụm từ ICT trong tên để chỉ ra chuyên môn của họ trong việc xử lý và gắn kết các hệ thống mạng khác nhau.

"ICT" được sử dụng như là một thuật ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép người dùng tạo, truy cập và thao tác với thông tin. ICT là một sử kết hợp của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông. Trong một thế giới ngày càng gắn kết với nhau, sự tương tác giữa các thiết bị, hệ thống và con người đang tăng lên đáng kể. Các doanh nghiệp cần phải đáp ứng các nhu cầu của nhân viên và khách hàng của họ để cho phép tiếp cận nhiều hơn với các hệ thống và thông tin. Tất cả những nhu cầu liên lạc phải được truyền đi theo một cách thống nhất. Bằng cách cung cấp cơ sở hạ tầng có thể mở rộng, những mô hình điện toán đám mây cho phép các công ty làm việc thông minh hơn nhờ vào việc truy cập công nghệ và thông tin thông minh và hiệu quả về chi phí hơn. Nền tảng kết hợp này đã giảm thiểu chi phí và nâng cap năng suất giữa các doanh nghiệp và hơn thế nữa. Một phần của lộ trình công nghệ thông tin và truyền thông nên được củng cố về cơ sở hạ tầng, trong khi đó thêm vào những lợi ích cho người dùng trong việc hợp tác, gửi tin, sắp xếp lịch, tin nhắn tức thời (IM), âm thanh, video, và hội nghị qua Web. Điện toán đám mây làm cho việc vận chuyển và tiêu thụ năng lượng trong IT trở nên hiệu quả hơn và đưa ICT lên một tầm cao mới



Tin học - Informatics (theo wikipedia)



Tin học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu quá trình tự động hóa việc tổ chức, lưu trữ và xử lý thông tin của một hệ thống máy tính cụ thể hoặc trừu tượng (ảo). Với cách hiểu hiện nay, tin học bao hàm tất cả các nghiên cứu và kỹ thuật có liên quan đến việc mô phỏng, biến đổi và tái tạo thông tin. Trong nghĩa thông dụng, tin học còn có thể bao hàm cả những gì liên quan đến các thiết bị máy tính hay các ứng dụng tin học văn phòng.

Về định nghĩa thế nào là tin học, Edsger Dijkstra đã tóm tắt bằng câu sau đây:

Quan hệ giữa tin học với máy tính không khác gì quan hệ giữa thiên văn học với kính viễn vọng.
Và đối tượng nghiên cứu của Tin học chính là Thông tin và các công cụ sử dụng để tương tác thông tin.

Người ta có thể làm việc với tin học bằng bất cứ một hệ thống nào hoạt động tương tự với các mạch lôgic: các máy cơ học (chẳng hạn máy tính Pascal và ô-tô-mát), máy khí động, hệ thống thủy lực... Những chương trình tin học đầu tiên được viết từ trước sự ra đời của máy tính rất lâu



Các lĩnh vực công việc trong ngành IT (theo Tech-centric)


Có rất nhiều loại hình công việc trong ngành công nghệ thông tin từ nhân viên kinh doanh đến thiết kế web, tùy thuộc vào các điểm mạnh và sự yêu thích mà bạn có thể tìm được cho mình vai trò phụ hợp. Sau đây là một vài lựa chọn tiêu biểu:

 - Nhân viên phân tích dữ liệu
 - Quản trị hệ thống
 - Lập trình viên
 - Kỹ sư phần mềm
 - Nhân viên phân tích hệ thống
 - Chuyên viên hỗ trợ kỹ thuật/ người sử dụng cuối cùng
 - Thiết kế web/ dịch vụ Internet

1. Nhân viên phân tích dữ liệu

Vai trò công việc


Nhiệm vụ

 -  Làm việc cho các công ty phần mềm, công ty tư vấn, công ty ứng dụng công nghệ thông tin thuộc các ngành nghề khác nhau
 -  Thảo luận về các nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp với các nhân viên nội bộ hay các khách hàng.
 -  Thu thập và sắp xếp các dữ liệu thích hợp khi xây dựng cơ sở dữ liệu và tiến hành các nghiên cứu liên quan.
 -  Sử dụng các hệ thống cơ sở dữ liệu/công nghệ thông tin để tạo ra các báo cáo và hỗ trợ trong công việc phân tích, marketing, chuẩn bị và tạo các chương trình giới thiệu sản phẩm.
 -  Giám sát và duy trì chất lượng hệ thống cơ sỡ dữ liệu cũng như tính bảo mật khi cập nhật và sử dụng

Kỹ năng chính

 -   Khả năng phân tích và tư duy lô gíc
 -   Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ viết và nói
 -   Tinh thần làm việc đồng đội và sáng kiến
 -   Hoàn thành các mục tiêu công việc đúng hạn
 -   Khả năng tính toán
 -   Ý thức kinh doanh
 -   Các kiến thức về hệ thống cơ sở dữ liệu.

Huấn luyện

Các công ty lớn đều tổ chức các khóa huấn luyện cho tất cả các vị trí từ hỗ trợ kỹ thuật, tiếp thị, đến quản trị cơ sở dữ liệu hay phát triển phần mềm.

Chương trình huấn luyện này là rất cần thiết đối với việc lưu trữ hệ thống cơ sở dữ liệu và sử dụng các kỹ năng lập trình như ORACLE and SQL. Sau khi các nhân viên đã có kinh nghiệm làm việc tập thể trong các dự án, họ sẽ có cơ hội thành những người lãnh đạo dự án.

2. Nhân viên kinh doanh

Nhiệm vụ

-   Làm việc cho các nhà sản xuất, công ty dịch vụ phần mềm
-  Có trách đối với một sản phẩm hay khách hàng cụ thể
-  Giới thiệu sản phẩm đến khách hàng
-  Tiếp tục liên hệ với khách hàng và trả lời các thắc mắc
-  Liên hệ với các phòng ban về chi tiết của đơn hàng khi ký hợp đồng
-  Liên hệ với bộ phận marketing để tìm kiếm khách hàng mới và báo cáo các phản hồi của khách hàng nhằm nâng cao sản phẩm
-  Thông tin cho các khách hàng hiện thời về sản phẩm mới

Kỹ năng chính
 -  Kỹ năng giao tiếp và trình bày thành thạo
 -  Khả năng thuyết phục và nhạy bén
 -  Ý thức và động cơ kinh doanh
 -  Linh hoạt, năng động và giỏi tính toán

Huấn luyện
Khi mới bắt đầu, các nhân viên kinh doanh sẽ được tham gia các khóa huấn luyện ngắn giới thiệu về sản phẩm, kỹ năng bán hàng và giao tiếp. Một vài nhân viên sẽ được huấn luyện chuyên sâu về kỹ thuật nếu đối tượng của sản phẩm là các chuyên gia công nghệ thông tin.

3. Quản trị hệ thống

Nhiệm vụ
-   Làm việc cho các công ty quản lý thiết bị, chịu trách nhiệm vận hành các thiết bị công nghệ thông tin cho khách hàng
-   Duy trì sự ổn định của hệ thống
-   Tuyển dụng, huấn luyện và quản lý đội ngũ làm việc, từ nhân viên nhập dữ liệu đến nhân viên vận hành, lập trình viên…
-   Bảo trì và cập nhật hệ thống khi cần thiết
-   Thương lượng với khách hàng
-   Xem xét số lượng người sử dụng hệ thống, liệu có cần cải tiến để đáp ứng nhu cầu không

Kỹ năng chính
-   Kỹ năng quản lý tổng hợp
-   Kỹ năng sáng tạo dựa trên các ý tưởng kinh doanh
-   Khả năng chọn lực, thúc đẩy và đánh giá nhân viên làm việc
-   Kỹ năng quản lý tài chính và thời gian

Huấn luyện
Các nhà quản trị hệ thống thường bắt đầu với công việc của một lập trình viên, sau đó là, thiết kế, phân tích hệ thống, quản trị mang và quản lý cấp bộ phận.Họ có thể trở thành những nhà quản lý hay giám đốc công nghệ thông tin.

4. Lập trình viên hệ thống

Nhiệm vụ

-   Làm việc cho bộ phận tin học của các công ty lớn, công ty tư vấn phần mềm, các nhà sản xuất điện tử và phần mềm
-   Viết các phần mềm ví dụ như hệ điều hành hay các ngôn ngữ cấp thấp tạo tiền đề cho máy tính triển khai các ứng dụng ở ngôn ngữ cao hơn hay chuyển thông tin đến các thiết bị khác.
-   Tùy chỉnh hệ thống để thực hiện các chức năng khác nhau
-   Tìm và phát hiện các lỗi trong phần mềm
-   Chạy thử các chương trình để kiểm tra khả năng thích ứng khi đưa vào thực tế
-   Chuẩn bị các tài liệu mô tả phương thức hoạt động của phần mềm.

Kỹ năng chính
-   Khả năng phân tích và suy luận logic
-   Chú ý đến từng chi tiết
-   Hoàn thành công việc đúng hạn
-   Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết
-   Kỹ năng tính toán
-   Kiến thức về một hệ thống máy tính cụ thể.

Huấn luyện
Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện 6 tuần cho các nhân viên trong năm đầu tiên trong ty các công ty nhỏ khuyến khích tinh thần tự học.
Kỹ sư phần mềm
Nhiệm vụ
-   Làm việc chủ yếu cho các công ty điện tử và viễn thông; nhiệm vụ cũng tương tự như lập trình viên, tuy nhiên tập trung hơn vào các ứng dụng kỹ thuật và thiết kế
-   Sử dụng ngôn ngữ máy tính để viết các chương trình phục vụ cho công việc
-   Sử dụng các công cụ hay hệ thống tiền thiết kế để viết ra các phần mềm
-   Tích hợp các chương trình được tạo, tìm và phát hiện lỗi
-   Chạy thử chương trình
-   Hoàn thành các tài liệu mô tả hoạt động của phần mềm

Kỹ năng chính
-    Khả năng phân tích và suy nghĩ  logíc
-    Kỹ năng làm việc tập thể
-   Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết
-   Chú ý đến từng chi tiết
-   Khả năng hoàn thành công việc đúng hạn.

Huấn luyện
Công việc này đòi hỏi bằng cấp chuyên môn về công nghệ thông tin hay lãnh vực liên quan. Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện 6 tuần cho các nhân viên trong năm đầu tiên trong ty các công ty nhỏ khuyến khích tinh thần tự học.

5. Nhân viên phân tích hệ thống

Nhiệm vụ
-   Gặp gỡ trưởng dự án và khách hàng để thảo luận về dự án
-   Thảo luận dự án chi tiết với nhân viên của khách hàng và thiết lập tính khả thi của dự án
-   Chuẩn bị các lưu đồ hệ thống, quyết định phần có thể được tin học hóa trong hệ thống
-   Đánh giá các phần cứng được yêu cầu khi triển khai hệ thống (tốc độ, chi phí, dung lượng bộ nhớ…)
-   Liên lạc với các lập trình viên, phân công công việc và giám sát quá trình sản xuất phần mềm
-   Xem xét để thay đổi nếu hệ thống khi chạy thử không đáp ứng được yêu cầu
-   Có thể phân tích hệ thống kinh doanh và cân nhắc các biện pháp rút giảm chi phí

Kỹ năng chính
-   Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề
-   Kỹ năng giao tiếp thành thạo (đặc biệt với khách hàng)
-  Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết
-  Ý thức kinh doanh và quản lý thời gian

Huấn luyện
Một số công ty tuyển dụng các sinh viên đã được huấn luyện về phân tích hệ thống trong quá trình học đại học. Hầu hết các nhân viên đều bắt đầu ở vị trí lập trình viên ->lập trình viên phân tích -> nhân viên phân tích hệ thống.

6. Chuyên viên hỗ trợ kỹ thuật / Người sử dụng cuối cùng

Nhiệm vụ

-   Làm việc cho các nhà cung cấp phần mềm và phần cứng tại văn phòng của người sử dụng cuối cùng
-   Cung cấp các hỗ trợ kỹ thậut cho khách hàng/người sử dụng hiện thời
-   Ghi nhận các cuộc gọi và các vấn đề trục trặc xảy ra
-   Liên hệ với các bộ phận cần thiết để giải quyết vấn đề
-   Tổng kết các sản phẩm và thủ tục
-   Lập kế hoạch cải tiến
-   Cập nhật quá trình phát triển sản phẩm mới và khuyến khích khách hàng nâng cấp sản phẩm

Kỹ năng chính
-    Khả năng lắng nghe
-    Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề
-    Khả năng ngoại giao
-    Kỹ năng nói và viết thành tạo
-    Linh hoạt

Huấn luyện
Các nhân viên mới sẽ được huấn luyện về đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và cách thức phục vụ khách hàng. Đối với các công ty lớn, khóa học được làm phong phú hơn bằng cách giảng dạy về phương thức phát triển và cung ứng sản phẩm.

7. Thiết kế website / dịch vụ Internet 

Nhiệm vụ
-   Làm việc cho các nhà sản xuất phần mềm , công ty tư vấn thiết kế web hay các công ty lớn
-   Tổng kết các lựa chọn và yêu cầu của khách hàng về website
-   Thiết kế và tạo các trang web, liên kết
-   Thử nghiệm thiết kế
-   Cài đặt trực tuyến phiên bản cuối cùng và hỗ trợ kỹ thuật cho khách hàng
-   Cập nhật các tiến bộ mới nhất trong lãnh vực thiết kế web
-   Đề ra các kế hoạch cải tiến

Kỹ năng chính
-    Kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề
-    Kiến thức về các hệ thống và ngôn ngữ lập trình liên quan, khả năng học hỏi
-    Kỹ năng nói và viết
-    Kỹ năng tưởng tượng và trình bày
-    Kỹ năng quản lý thời gian
-    Kỹ năng làm việc tập thể

Huấn luyện
Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện kỹ thuật cho nhân viên, trang bị các kỹ năng nền tảng. Các công ty nhỏ, ngược lại đòi hỏi nhân viên tự học hỏi các kiến thức về một số ngôn ngữ lập trình như Java, Visual Basis thông qua quá trình làm việc.


Công nghệ Agent trong quản lý mạng Internet

Sự ra đời của công nghệ Agent , đặc biệt là Agentphần mềm có thể là một câu trả lời cho các bài toán quản lí mạng hóc búa. Xu hướng quản lý mạng hiện nay thường theo kiểu tập trung (centralized) do đó phải sử dụng các ứng dụng tương đối lớn thì mới có thể thực hiện được các đặc tính thông minh của hệ thống, người ta sẽ sử dụng một số các hệ thống nhỏ hơn có quan hệ mật thiết với nhau hoặc các Agentcó thể giao tiếp được với nhau (điều này không chỉ đơn thuần là chia nhỏ hệ thống, vì nó yêu cầu phức tạp hơn nhiều).

1.  Giới thiệu
Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, mạng viễn thông nói chung và mạng Internet nói riêng ngày càng hiện đại và phức tạp. Điều này đòi hỏi người điều hành mạng phải có một kiến thức rất rộng và phải được đào tạo và cập nhật kiến thức thường xuyên. Việc quản lý nhiều loại mạng khác nhau sẽ yêu cầu phải thu thập một khối lượng lớn các số liệu, các số liệu này phải được phân tích xử lý trước khi đưa ra một biện pháp quản lý thực sự, điều này sẽ gặp rất nhiều khó khǎn cho người điều hành nếu không có một công cụ hiệu quả trong tay. Đồng thời với sự phức tạp của mạng thì đối với người sử dụng việc nâng cao độ tin cậy và chất lượng dịch vụ được mong đợi cao hơn. Sự ra đời của công nghệ Agent , đặc biệt là Agent phần mềm có thể là một câu trả lời cho bài toán quản lí mạng hóc búa này. Xu hướng quản lý mạng hiện nay thường theo kiểu tập trung (centralized) do đó phải sử dụng các ứng dụng tương đối lớn thì mới có thể thực hiện được các đặc tính thông minh của hệ thống, người ta sẽ sử dụng một số các hệ thống nhỏ hơn có quan hệ mật thiết với nhau hoặc các Agent có thể giao tiếp được với nhau (điều này không chỉ đơn thuần là chia nhỏ hệ thống, vì nó yêu cầu phức tạp hơn nhiều). Với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, thì một Agent có thể được nhìn nhận theo mô hình BDI (Belift-Desires-Intentions), và được sử dụng để có thể trao đổi thông tin, đưa ra các kết quả hoặc kết hợp các kết quả một cách thông minh, nhưng cũng đơn giản hơn mô hình đang sử dụng hiện tại.
            Hiện nay, việc quản lí mạng nói chung đều dựa trên mô hình client/server. Cho dù hệ thống Agent có thể hoạt động với bất kỳ công nghệ client/server nào nhưng nó khác với hệ thống client/server do nó không phân biệt rõ ràng đâu là client đâu là server. Tất cả các Agentđược uỷ quyền một nhiệm vụ hay vai trò do người thiết kế hoặc người sử dụng hoặc một Agent giám sát gán cho. Các hệ thống quản lý mạng khi sử dụng công nghệ Agent với một đặc tính của Agent đó là tính di động sẽ thuận lợi hơn so với mô hình client/server thông thường, cũng như hệ thống dựa trên các Agent tĩnh.

      2. Agent di động.
          2.1. Khái niệm về Agent .
            Sẽ thật không dễ dàng khi đi tìm một khái niệm chính xác cho Agent. Nó là một khái niệm cực kỳ rộng lớn, bao hàm nhiều vấn đề, theo nhà nghiên cứu Krogh "Agent là gì? Nó là rất nhiều thứ. Nếu cố gắng tìm ra một mẫu thức chung về hoạt động hay lí thuyết về Agent thì bạn có thể gặp sai lầm", và ông đã chỉ ra một số các điểm mâu thuẫn giữa các khái niệm Agent như tính tiên đoán, tính phản ứng, tính suy diễn.
            Để có thể hiểu rõ hơn về Agent , ở đây ta nên thu hẹp phạm vi của Agent , đó là Agent phần mềm: "Đó là một thực thể phần mềm, hoạt động theo sự uỷ quyền của các Agent khác, của người điều khiển, nó có khả nǎng tự động, thực hiện tiên đoán, phản ứng và một số khả nǎng như tự học, tự di chuyển, hoạt động theo kiểu cộng tác. Ta có thể coi đây là một mô hình Agent cơ sở.
            Ngoài ra Agent phần mềm còn xác định một số khái niệm khác: mô hình vòng đời, mô hình tính toán, mô hình giao tiếp truyền thông, mô hình bảo mật, mà nằm ngoài khuôn khổ bài báo
            2.2. Agent di động
            Bây giờ thì rất dễ dàng để hiểu được khái niệm Agent di động: là một Agent phần mềm có khả nǎng thay đổi vị trí. Agent di động còn được trang bị thêm một đặc tính nữa đó là mô hình di chuyển. Công nghệ được sử dụng cho Agent di động: code di động (mobile code) hoặc remote object với Agent TCL, Telescript hoặc gần đây là Aglets.
            Để có thể sử dụng các Agent di động, thì hệ thống cần có một framework: cung cấp các tính nǎng và hỗ trợ hầu hết các mô hình Agentdi động kể cả cách thức di chuyển của Agent.
            Mô hình đời: cần một số tiện ích tạo, huỷ, dừng, tạm dừng, một Agent.
            Mô hình tính toán: khả nǎng điều khiển thread, vận hành quản lý dữ liệu
            Mô hình bảo mật: đó là các cách để cho Agent có thể truy nhập tài nguyên mạng cũng như các cách để truy nhập tới Agent từ mạng.
            Mô hình giao tiếp, truyền thông: xác định cách thức truyền thông giữa các Agent và giữa Agent với các thực thể khác (ví dụ: mạng)
            Tất cả các vấn đề liên quan đến việc di chuyển của một Agent(cùng với trạng thái của nó hoặc không) giữa hai thực thể (có thể là hai máy tính) nằm ở hai vị trí khác nhau đều dựa vào mô hình di chuyển. Với những yêu cầu trên, hiển nhiên, framework sẽ phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định bao gồm: tǎng dung lượng bộ nhớ đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về trễ khi truy nhập hoặc thi hành trên các thiết bị xác định. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thì vấn đề này dường như không quá khó khǎn. Một ví dụ về vấn đề này, đó là máy ảo Java (JVM-Java Virtual Machine), nó là cơ sở cho hầu hết các framework Agent , nó rất nhỏ và phù hợp cho việc nhúng vào hệ thống.
            Và điều cuối cùng về khái niệm Agentdi động, đó là kích cỡ của chúng: không nhất thiết cố định, nó thay đổi tuỳ theo công việc mà chúng phải thực hiện. Với các Agentthông minh tổ chức kiểu tổ ong (swarm intelligent) thì lại có kích cỡ rất nhỏ, nhưng với các Agentcó nhiệm vụ cấu hình hoặc phân tích chẩn đoán thì kích cỡ của chúng khá là lớn (do chúng cần phải mang theo các thuật toán phức tạp, bộ máy phân tích). Điều quan trọng nữa, là các Agentcó thể mở rộng khả nǎng (nếu cần) bằng cách tải về các đoạn mã cần thiết từ tài nguyên mạng.
            Tóm lại một Agentdi động sẽ đem lại một số lợi ích :
            Tiết kiệm tài nguyên CPU.
            Tiết kiệm không gian: Do nó chỉ ở tại mỗi nút mạng trong một thời điểm nhất định.
            Giảm được lưu lượng trên mạng: các đoạn mã thường là nhỏ hơn rất nhiều so với khối lượng dữ liệu mà một Agent xử lý

            2.3. Chuẩn về cơ cấu tổ chức Agent di động.
            Cũng như bất kì các hoạt động liên quan đến truyền thông, các khái niệm chung về Agent di động cho quản lí mạng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các tiêu chuẩn đưa ra. Tổ chức OMG (Open Management Group) đã đưa ra được bản phác thảo tiêu chuẩn (trong Bluebook) cho Agentnói chung và Agentdi động nói riêng. Mô hình này được chỉ ra trên hình vẽ [4], với khái niệm quần thể Agent : gồm một nhóm các hệ thống Agentcó thể truy nhập lẫn nhau và có quyền và nhận dạng tương tự nhau. Bản phác thảo này cũng đưa ra được mô hình tổ chức của một Agent thiên về CORBA, với giao thức IIOP được sử dụng như giao thức truyền vận và sử dụng một số dịch vụ có sẵn của CORBA (ví dụ: naming).

3. Ứng dụng của Agent di động trong quản lý mạng.

Hệ thống quản lí mạng phức tạp nên còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu thử nghiệm với Agentphần mềm: dữ liệu cần xử lý rất lớn, các môi trường ngày càng hỗn tạp vơi nhiều loại thiết bị,…Các sự cố trên mạng luôn luôn có nguy cơ xảy ra: việc tràn dữ liệu trên mạng đòi hỏi người quản lí giám sát cần đưa ra giải pháp xử lí nhanh chóng. Lỗi phải được chẩn đoán một cách nhanh chóng chính xác và được tự động sửa hoặc thông báo đến người điều hành và đưa ra một số khuyến nghị về cách giải quyết. Trong mạng Internet hoặc mạng khác, người điều hành mạng phải làm việc từ xa với rất nhiều thiết bị (thường là ngồi ở trạm điều hành). Để có thể nắm bắt được tính đa dạng của các thành phần mạng thì các ứng dụng quản lí cần làm việc với nhiều giao diện hoặc các công cụ. Các hệ thống quản lí mạng thường là rất lớn và rất khó để duy trì hoạt động, chính vì vậy, chúng ta hãy điểm lại một số lĩnh vực ứng dụng trong quản lí mạng mà các Agent di động có thể sử dụng và cách sử dụng chúng trong từng lĩnh vực như thế nào.
Trước hết ta hãy tìm hiểu một số giao thức quản lí mạng:
Giao thức quản lí mạng SNMP (Simple Network Management Protocol). Giao thức quản lí mạng này được sử dụng để thiết lập các kênh truyền thông giữa NMS (Network Management Station) và nút mạng được quản lí với các nhiệm vụ, gửi đi các yêu cầu và nhận về các bản tin trả lời. Giao thức này tương ứng với tầng ứng dụng trong mô hình TCP/IP, và được sử dụng chính trong mạng Internet, và nó cúng được sử dụng với các giao thức truyền thông khác như IPX, AppleTalk, OSI. Nó gồm một số thành phần chính: thiết bị được quản lí, các Agent , các hệ thống quản lí mạng NM
Các chức nǎng quản lí mạng được tiêu chuẩn trong chuẩn OSI:
- Quản lí về lỗi: nó gồm một loạt các công cụ cho phép phát hiện, cách ly hoặc sửa lỗi: lỗi thực thi, lỗi thiết kế, lỗi quá tải, nhiễu, quá thời gian sống (lifetime). Nó gồm một số chức nǎng:
+ Kiểm tra lỗi, ghi lại lỗi (file .log), bảo dưỡng.
+ Chấp nhận và làm theo chỉ dẫn thông báo về lỗi
+ Nhận dạng lỗi
+ Tiến hành các bài kiểm tra phân tích lỗi.
+ Sửa lỗi.
-         Quản lý cước: Gồm một số chức năng.
+ Thông báo với khách hàng về cước
+ Thông báo với khách hàng về cước trong tương lai
+ Giới hạn cước (ví dụ: không cho phép lớn hơn 6 kết nối điện thoại)
+ Tổng hợp cước (tránh cho khách hàng các hoá đơn cước lẻ tẻ).
-         Quản lý cấu hình của mạng. Đôi khi còn được gọi là quản lí tên và cấu hình, nó gồm một số chức nǎng:
+ Ghi lại cấu hình hiện tại.
+ Ghi lại các thay đổi về cấu hình.
+ Nhận dạng các thành phần mạng.
+ Khởi tạo và đóng các hệ thống mạng.
+ Thay đổi các thông số trong mạng (ví dụ bảng cấu hình).
- Quản lí hoạt động của mạng. Nó rất cần để nâng cao QoS của mạng. Để thấy được sự thay đổi trong hoạt động của mạng, thì các dữ liệu cần được thu thập và thống kê thông qua các file .log. Điều này mang lại một số ưu điểm:
+ Các dữ liệu được ghi có thể được sử dụng bởi chức nǎng quản lí lỗi để phát hiện lỗi
+ Các dữ liệu được ghi có thể được sử dụng bởi chức nǎng quản lí cấu hính để quyết định khi nào cần thay đổi cấu hình
+ Và cũng có thể được sử dụng cho phần quản lí cước để điều chỉnh hoá đơn
-         Quản lí bảo mật: Cho phép quản lí quá trình khởi tạo và thay đổi các chức nǎng bảo mật trong mạng chống lại sự truy nhập trái phép. Một số phần quan trọng được sử dụng: quản lí khoá truy nhập (chứng thực, mã hoá, uỷ quyền), quản lí firewall và tạo các bản ghi bảo mật.
Để có thể thấy hết được tiềm nǎng của việc sử dụng Agentdi động trong một số lĩnh vực quản lý mạng, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nghiên cứu mô hình mạng:
Mô hình hình mạng. Việc tự động tìm kiếm phát hiện là một trong những chức nǎng cơ bản của hệ thống quản lí mạng. Trong trường hợp đơn giản nhất, đó chỉ là tìm các thiết bị cả mạng.
Các đoạn mã di động được ví như một phương tiện thuận lợi nhất để thực hiện nhiệm vụ trên. Trong khi sự tìm kiếm phát hiện cơ bản trong mạng (chỉ đơn giản là phát hiện các nút mạng) không đủ phức tạp cần thiết cho việc sử dụng các đoạn mà di động, sự phức tạp hơn sẽ đem lại lợi ích lớn hơn từ những khả nǎng mới đó. Tuy nhiện việc tìm kiếm phát hiện trong mạng là phương tiện cơ sở cho định hướng mới. Một trong những kĩ thuật tìm kiếm phát hiện được sử dụng thông dụng là việc gửi đi các bản tin ping đến địa chỉ IP trong một vùng nào đó. Và quá trình tìm kiếm phát hiện sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan về mạng thông qua các bản tin trả lời. Nhưng bây giờ, các Agentdi động, được gọi là deglet (delegation-sự uỷ quyền), sẽ được sử dụng, các Agentnày có thể được tạo ra với một nhiệm vụ duy nhất là gửi các ID của nút mạng (mà nó di chuyển đến) đến nơi đã tạo ra nó (xem hình vẽ [6]). Sau đó, deglet này sẽ được đưa vào trong mạng và di chuyển theo các mẫu di chuyển được thực thi. Có nhiều vấn đề tương tự đã được giải quyết như trong thuật toán ping (ví dụ như phạm vi tìm kiếm) tuy nhiên phương thức mới được sử dụng sẽ linh hoạt hơn, chẳng hạn: nó không yêu cầu người sử dụng phải có kiến thức về mạng. Sự kết thúc nhiệm vụ được nhận ra ngay trong deglet, có thể bằng cách đếm các bước nhảy hoặc trung bình số lần kiểm tra của một nút mạng xác định.
Bằng Bằng cách ghép các ràng buộc của các deglet làm nhiệm vụ tìm kiếm chúng ta có thể tạo ra được các mô hình mạng. Các ràng buộc về loại của thiết bị trong các Agentdeglet tìm kiếm phát hiện sẽ cho kết quả một mô hình mạng chứa các thiết bị chỉ thuộc loại xác định ở trên. Những mô hình mạng này có thể được tạo ra một cách tự động, không nhất thiết cố định, chúng có thể thay đổi cho phù hợp với các yêu cầu của ứng dụng.
Nếu nhiệm vụ được uỷ quyền có tính chất không thay đổi, thì chúng ta có thể gọi các Agentthực hiện nhiệm vụ đó là các netlet. Các netlet được coi như là một phần thuộc cơ sở hạ tầng mạng. Và quá trình tìm kiếm phát hiện trở nên liên tục hơn, nhanh hơn khi sử dụng các netlet. Các netlet có thể phát hiện ra các thay đổi trong cấu hình mạng nên mô hình mạng thay đổi. Một số các netlet có thể được gán để thực thi các tác vụ đó, sự thay đổi về cấu hình đó có thể được phát hiện nhanh chậm tuỳ thuộc vào mật độ của các netlet (điều này hoàn toàn có thể điều khiển được), càng có nhiều các netlet trong mạng thì khả nǎng phát hiện sự thay đổi càng nhanh. Tuy nhiên, cũng có một số ràng buộc nhất định về số lượng các netlet trong mạng, ví dụ như khả thông, bǎng thông của mạng. Tương tự như deglet, các netlet có thể sử dụng mặc định về sự di chuyển trong mạng, hoặc có thể sử dụng riêng một mô hình di chuyển nào đó phù hợp với mô hình mạng và với tác vụ thực thi. Một ví dụ đơn giản về điều này, netlet có thể xác định cho mình một phạm vi di chuyển trong một mạng rộng lớn, vì thế nó không thể di chuyển ra ngoài phạm vi phần mạng xác định đó.

3.1. Quản lý lỗi.
Phân tích chuẩn đoán hiện trạng mạng. Các phương thức được sử dụng để mô hình hoá mạng đều có thể được sử dụng để phân tích chẩn đoán lỗi trong mạng. Việc phát hiện các lỗi cũng là một quá trình xây dựng một mô hình đặc biệt của mạng. Nếu các ràng buộc cho sự tìm kiếm phát hiện mô tả các xung đột được coi là bình thường của các thành phần mạng, thì các Agentkiểm tra các ràng buộc đó rồi mới thực hiện chức nǎng phát hiện lỗi. Deglet có thể được sử dụng để phản ứng lại kết quả phát hiện hoặc đưa ra các vấn đề nghi vấn. Chúng cố gắng thu thập thêm các thông tin, thực hiện các bài kiểm tra mở rộng hoặc thi hành các tác vụ khôi phục.
            Các ràng buộc không hạn chế cho một thiết bị mạng đơn lẻ nào. Chúng có thể mã hoá các thuật toán phức tạp với chức nǎng tìm kiếm phát hiện lỗi, và chỉ có giới hạn về kích cỡ của netlet là liên quan trực tiếp đến khả nǎng di chuyển và khả thông của mạng. Vấn đề đó có thể được giảm thiểu bằng cách tận dụng các ưu điểm của Java, các kĩ thuật nén mã, và các phương thức thông minh. Các cơ sở về lý thuyết hỗ trợ kĩ thuật cho hoạt động Agentdi động cũng đang được các tổ chức quan tâm xúc tiến nghiên cứu.
            Với sự phân bố Agent , chúng ta có một "xã hội" các Agentcó mối quan hệ với nhau mà nhu cầu cần thiết là phối hợp để phân chia mức độ thông minh cần thiết cho việc phân tích và phát hiện lỗi trong mạng. Một số lượng nhất định các loại Agenttí hon được đưa vào mạng, mỗi một loại có thể nghiên cứu giải quyết một vấn đề nào đó, và được giải quyết bằng cách tǎng cường giả thuyết theo sự quan sát của một số lượng lớn các Agentcùng loại. Như vậy để có giải pháp giải quyết vấn đề trong mạng cần kết hợp các giả thuyết được đưa ra bởi mỗi loại Agent.
            Cả hai loại Agent netlet và deglet cùng tuân theo một cách bảo mật cung cấp trước nào đó có thể được cho phép thực hiện các hoạt động trên các thiết bị mạng [hình 3]. Mỗi một netlet "tích cực" có thể được sử dụng để giải quyết một vấn đề nào đó một cách tự động theo cách khôi phục ngay tức thì khi có thể. Người quản lí mạng sẽ được thông báo về sự kiện xảy ra hoặc được cảnh báo nếu như sự khôi phục tự động của Agentkhông thực hiện được hoặc yêu cầu sự trợ giúp từ phía người điều hành. Mức độ kĩ thuật của mạng sẽ giảm được phần nào các lỗi xuất hiện trên mạng. Trong khi với các deglet, mà các tác vụ được uỷ quyền khi cần thiết thông qua sự giao tiếp của Agentvới thực thể uỷ quyền thì với netlet, chúng có thể được gán cho các tác vụ dựa theo quyền ưu tiên do người thiết kế tự đặt hoặc được khởi động tự động như là một phần trong mạng, kết cấu tổ chức và mật độ các netlet được điều khiển bởi các kĩ thuật bảo mật nào đó (ví dụ, tần suất di chuyển đến các nút mạng có thể được đo và sử dụng để tái tạo hoặc kết thúc các netlet).
            Sự bảo dướng duy trì từ xa với các thành phần mạng hỗn hợp Các Agentdi động cần phải tương tác với các nút mạng thông qua một giao diện mà tại đó cung cấp đầy đủ các phương tiện: bảo mật, truy nhập gián tiếp đến tài nguyên của nút mạng và một số dịch vụ đi kèm khác. Giao diện này được gọi là thành phần quản lý ảo (VMC-Virtual Managed Component): được thiết kế bởi nhà cung cấp thiết bị. Nó có thể nằm ngay trong thiết bị hoặc trên proxy trong trường hợp thiết bị không có khả nǎng chấp nhận Agentdi động. Trong thực tế, nhà cung cấp thiết bị mạng thường trang bị một phương tiên cho VMC là khả nǎng tải được các dữ liệu về trình điều khiển thiết bị (driver), và điều này làm cho việc quản lý các thiết bị được dễ dàng hơn. Khi thiết bị được nối mạng, nó sẽ biết được các phương tiện có sẵn được quảng bá trong mạng. Ví dụ, một Agentlàm nhiệm vụ tìm kiếm có thể sẽ yêu cầu một danh sách các thiết bị được hỗ trợ trong mạng, người sử dụng dựa vào danh sách các thiết bị này để kiểm tra một thiết bị cụ thể [hình 3], nếu như thiết bị có trong danh sách thì nó được cài đặt ngay trạm. Nó có thể thi hành trên trình duyệt Web hoặc như một chương trình độc lập. Applet cung cấp dữ liệu và các chức nǎng thành phần mà nhà cung cấp đã trang bị phù hợp với thiết bị: có thể đơn giản chỉ là danh sách thiết bị đơn giản hoặc đồ hoạ của thiết bị phần cứng hoặc các dịch vụ.
            Nếu thiết bị không cung cấp một applet đại diện, thì người điều hành phải điều khiển thiết bị hoặc một thiết bị chung nhất (thường gọi là mặc định) được sử dung thay thế. Đây cũng là giải pháp mà hiện nay các hệ thống quản lý mạng đang áp dụng trong các Agent . Một thiết bị không chỉ có phần đại diện được thực thi mà chúng còn phải thực thi một giao thức truyền thông chẳng hạn như SNMP với người quản lí, để có thể nhận được hoặc truyền đi các thông số về thiết bị. Chính điều này một lần nữa đã góp phần làm cho việc quản lí mạng càng thêm lớn, phức tạp và bất tiện hơn. Chúng ta có thể kết luận giải pháp các applet có thể tải về được không bị những ràng buộc trên.
            Một khía cạnh hấp dấn nữa cho xu hướng trên được cung cấp bởi các kho chứa các applet trên máy chủ, ví dụ như máy chủ của nhà cung cấp thiết bị. Và giao diện VMC được đóng gói cùng thiết bị sẽ chứa một con trỏ trỏ đến applet trên máy chủ. Một điều hiển nhiên là nhà cung cấp có thể duy trì kho chứa applet, cập nhật và làm cho nó thuận tiện hơn, ví dụ bằng cách sử dụng các phần mềm. Đó cũng là một trong những xu hướng hiện nay với các thiết bị plug-n-play.
            Một ví dụ khác sử dụng Agentdi động để duy trì bảo dưỡng thiết bị từ xa: cung cấp dịch vụ video theo yêu cầu. Cùng với sự phát triển của mạng trong tương lai, mà không phát triển về việc quản lí mạng thì một điều không thể giải quyết được đó là việc phải gửi các nhà kĩ thuật để giải quyết các lỗi về thiết bị, do có nhiều các thiết bị được cài đặt nằm rải rác nhiều vùng địa lý-> gây khó khǎn cho việc quản lí mạng. Để giải quyết vấn đề này chúng ta chỉ cần gửi đi các Agent , nó sẽ thực hiện các bài kiểm tra phù hợp và sẽ cố gắng đưa ra các phương án giải quyết vấn đề nếu có thể, nếu không nó sẽ thông báo để con người can thiệp. Với khả nǎng tự học thì Agentcó thể tự bồi đắp, làm giàu thêm thư viện kiến thức của mình với các tác vụ đã thực hiện.
3.2.                     Quản lí cấu hình.
Các dịch vụ. Việc cung cấp dịch vụ (tất nhiên ở đây ta không xét khía cạnh cấp dịch vụ đến người sử dụng) trong mạng viễn thông cũng như mạng Internet hiện nay tương đối phức tạp và liên quan đến nhiều thành phần. Công việc này sẽ được giảm nhẹ khi sử dụng các Agentdi động. Ví dụ, cung cấp PVC trong mạng ATM (giả sử có mạng IPoATM). Người điều hành sẽ mất rất nhiều thời gian với các khái niệm phức tạp của PVC để có thể thiết lập được kết nối giữa hai tổng đài ATM, đặc biệt là hai tổng đài do hai hãng khác nhau cung cấp. Một hệ thống Agent(hình vẽ [4]) có thể làm nhiệm vụ này một cách tự động: yêu cầu thiết lập PVC được gán cho deglet. Các dữ liệu cần thiết được trao đổi giữa các EP (endpoint) deglet lấy thông tin đó qua VMC sử dụng một loại ontology xác định trứơc. Deglet khác lại thông tin với người điều hành, các dữ liệu cần thiết được thu gom và hoàn thành kết nối.
            Các thành phần mạng. Cấu hình một thiết bị yêu cầu một số các thuộc tính trong mạng và ở thiết bị phải được đặt tương tự như các thành phần mềm được cài đặt. Ví dụ, một máy in cần có trình điều khiển nằm trên các trạm làm việc để các trạm này sử dụng chúng. Hiện nay, người quản lý mạng phải thực hiện tất cả các tác vụ trên một cách thủ công. Với sự phát triển của công nghệ Agentthì việc sử dụng các Agentdi động sẽ đem lại một viễn cảnh các thành phần mạng được thực thi theo xu hướng cắm và chạy (plug-n-play)
            Bây giờ ta phân tích kĩ hơn ví dụ nêu ở trên, cài đặt máy in trong mạng. Tác vụ này liên quan đến mạng doanh nghiệp gồm một số các trạm làm việc với các yêu cầu khác nhau: các trình điều khiển cần thiết cho máy in sẽ khác nhau giữa các máy tính sử dụng Windows và OS/2, giữa các máy Maccintosh và Unix. Bây giờ ta lại giả sử rằng mạng này lại được nối đến Internet. Để sử dụng được máy in thì các trạm làm việc cần được cung cấp các trình điều khiển hợp lý. Nếu như máy in có đi kèm tất cả các trình điều khiển yêu cầu hoặc hệ điều hành đã chứa các trình điều khiển đó thì công việc cài đặt máy in trên mạng không có gì đáng nói cả, và hoán toàn có thể quản lí được. Còn trong trường hợp không có các trình điều khiển máy in phù hợp, thì toàn bộ quá trình cài đặt sẽ gặp nhiều khó khǎn. Sự biến đổi về topo mạng cần được quản lí ngay cả khi các máy in và các trạm làm việc được thêm vào: các máy in phải được cho cấp phép dịch vụ, các hệ điều hành được cập nhật.
            Ở đây, chúng ta mô tả việc sử dụng các Agent động và các Agent tĩnh. VMC của thiết bị mới, ở đây là máy in, bao gồm cả Agentlàm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ. Trên kết nối tới mạng, một số các deglet hoặc netlet được gửi đi để tìm kiếm phát hiện các thiết bị mạng đang cần trình điều khiển máy in, sau đó nó liên hệ với trang Web của nhà cung cấp máy in và phiên bản mới nhất của máy in sẽ được tải về. VMC của máy in có thể chứa danh sách các thiết bị sử dụng máy in, vì vậy nó có thể kết hợp để cài đặt các trình điều khiển mới khi cần. Máy in sẽ đǎng kí với nhà cung cấp, khi có trình điều khiển mới, nó sẽ được tự động gửi cho Agentcung cấp dịch vụ cho máy in. Cũng giống như các Agentlàm nhiệm vụ phân tích lỗi, việc quản lí cấu hình cũng cần sự kết hợp của nhiều loại Agentđơn giản.
            3.3 Quản lí hoạt động mạng.
            Chúng ta đều biết rằng, các khái niệm về đo kiểm đánh giá chất lượng mạng là rất khó khǎn khi mà sử dụng một máy chủ tập trung. Trễ trên mạng là một vấn đề đối với việc đưa ra các quyết định đo kiểm mạng. Thay vì dùng các thành phần thǎm dò từ xa, một Agentdi động được gửi đi để thực thi sự phân tích ngay tại thành phần được đo. Các thông tin theo cách này sẽ đúng và chính xác hơn, bởi vì chúng không chịu ảnh hưởng của trễ trên mạng. Một kết quả tương tự có thể nhận được khi mà tiến trình điều khiển là một phần của thành phần kiểm tra và cũng là một phần tĩnh nằm ngay trong thành phần kiểm tra. Song giải pháp với Agentdi động là đáng quan tâm hơn cả, do nó không đòi hỏi một tài nguyên cố định trên trạm cần đo. Và tất nhiên việc quản lí sẽ càng đơn giản, do chúng ta hoàn toàn dễ dàng sử dụng các Agenttiên tiến nhất mà không mất mấy công sức, trong khi chúng ta sẽ phải rất khó khǎn để cập nhật cho các Agenttĩnh nằm ngay tại nơi cần đo.
            Các công nghệ hot-swapping (trao đổi thông tin nóng) cũng có thể dựa trên các đoạn mã di động. Các bảng trao đổi đựoc áp dụng để cập nhật cho các Agentquản lí giám sát mạng tĩnh. Nếu các Agentnày là các ứng dụng có thể mở rộng, thì các module chứa các đoạn mã động (extlet) được sử dụng để cập nhật mà không tạm ngưng các dịch vụ mà ứng dụng đang cung cấp. Các module di động này không nhất thiết phải nằm ở thành phần cập nhật, mà chỉ tải về khi cần, không giồng như việc sử dụng các applet trong các trình duyệt Web. Một lần nữa, Agentdi động lại chứng tỏ ưu điểm: yêu cầu ít tài nguyên hơn, thêm nữa là quá trình xử lí phân tán, cách xử lí thông minh phối hợp từ các nguồn tài nguyên khác nhau trong quá trình đo kiểm, đánh giá.
            Một ví dụ cho công nghệ trên, đó là khi server được di chuyển đến môi trường thực thi tốt hơn, việc quyết định di chuyển sẽ yêu cầu một loạt các phân tích thông minh của nhiều nhân tố như: yêu cầu dịch vụ, tải trên mạng, tỉ lệ lỗi,…chẳng hạn người điều hành có thể di rời dịch vụ khi nhận thấy tỉ lệ lỗi xuất hiện khi truy nhập dịch vụ của nó là không chấp nhận được. Một trường hợp khác, server cung cấp các dịch vụ truyền thông trong một hệ thống phân tán có thể được di chuyển nếu như các yêu cầu dịch vụ tǎng trong một vùng nào đó. Trong tất cả các trường hợp đó, server là một Agentdi động không có ràng buộc về kích cỡ, có thể là rất lớn.
            Tuy nhiên, khi sử dụng Agentdi động trong việc quản lí hoạt động của mạng, chúng ta sẽ gặp phải một số vấn đề. Khi sử dụng tràn lan các Agentdi động, mà không được điều khiển, sẽ gây hiện tượng đầy tràn mạng, chiếm một tỉ lệ lớn trong tài nguyên mạng. Chính vì thế phần nền cho các Agentdi động hoạt động cần có một số qui tắc ràng buộc về mật độ Agent .
            3.4 Mạng plug-n-play.
            Việc sử dụng Agentdi động mở ra một hướng mới cho một mạng thống nhất: mạng plug-n-play, nó có thể tự động xác định được các thiết bị, các thành phần trong mạng và các yêu cầu của người sử dụng. Như chúng ta đã phân tích ở trên, các Agentdi động hoàn toàn có thể can thiệp vào các quá trình cấu hình thiết bị mạng, cung cấp dịch vụ. Nếu xet một ví dụ thực tế, các applet được sử dụng để lấy các dữ liệu trên mạng về thông tin lưu trữ của thiết bị và của người sử dụng, và khi mạng phát triển hơn (thêm các dịch vụ, các thiết bị), thì mạng có thể phát hiện và thay đổi dữ liệu cấu hình. Sử dụng các Agentdi động với tác vụ uỷ quyền: cấu hình và cung cấp dịch vụ, ta hoàn toàn có thể thực hiện được điều này. Ngoài ra mạng plug-n-play còn có khả nǎng phát hiện ra lỗi, hoặc các khả nǎng xảy ra ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ hoặc vấn đề bảo mật, nó có thể tự động sửa chữa.
4.    Kết luận.
Việc sử dụng công nghệ Agentcho quản lí mạng là phù hợp và là nhu cầu tất yếu. Trong thực tế hiện nay, các giao thức quản lí mạng như SNMP, CMIP (OSI), TNM đều đang sử dụng công nghệ hướng đối tượng (OO-Object Oriented) và một phần khái niệm Agent . Hơn thế, các Agentthông minh một lần nữa được chứng tỏ trong việc thực thi quản lí mạng. Tuy nhiên, do còn là một công nghệ mới, đang hoàn thiện nên công nghệ Agentnói chung và Agentdi động nói riêng cần được đầu tư nghiên cứu hơn nữa. Ví dụ, Agentdi động đối mặt với vấn đề bǎng thông trong mạng client/server, với việc quản lí các Agentdi động như thế nào cho tối ưu
Các nhà nghiên cứu phát triển hệ thống quản lí mạng đều tin tưởng quản lí mạng dựa trên mạng Internet sẽ mang lại kết quả hơn, và nhiều hơn khi sử dụng công nghệ Agent . Một xu hướng mới đang phát triển dựa trên Jini, một công nghệ tổng hợp giữa các công nghệ remote object (điển hình là CORBA), mã di động và Agent .


Tài liệu tham khảo
[1] O'Hare, G. and Jenning, N, Foundations of Distributed Artificial Intelligence
[2] Mobile Agents. FIPA: http://www.fipa.com (http://www.fipa.com/)
[4] Agent technology, Blue book, OMG:www.omg.org (http://internet.vdc.com.vn/www.omg.org)
[5] Rima Abdul-Mobile Agent for Network Management.
[6] Ichiro- A mobile agent-based framework for active networks
[7] OMG- CORBA: www.omg.org (http://internet.vdc.com.vn/www.omg.org)

[Biên soạn, sưu tập với nguồn từ đồng nghiệp]

[C\C++] Những khác biệt cơ bản giữ C và C++

Những khác biệt có thể bạn chưa biết trong lập trình C, C++ ? 
 1. Sự khác biệt giữa C và C++ 
- Hầu hết IT trên thế giới đều biết về 2 n...



>> Xem thêm...

Hệ điều hành mới của Google sẽ phục vụ IoT, chạy được trên mọi thiết bị kể cả đèn giao thông

Google đang xây dựng một hệ điều hành mới được biết tới với cái tên Fuchsia, khác biệt hoàn toàn với Android và Chome OS cũng là con đẻ của chính tập đoàn này…


Fuchsia không được Google phát triển dựa trên nhân Linux như Android và Chrome OS, thay vào đó họ sử dụng một loại nhân mới tên là Magenta được cho là phù hợp hơn để chạy trên tất cả các thiết bị nhúng như điện thoại di động hay máy tính xách tay. Điều này thể hiện rõ ràng tham vọng của Google nhằm tìm kiếm một vai trò lớn hơn trong kỉ nguyên Vạn vật kết nối Internet (Internet of Things) hiện tại.

Fuchsia – Hệ điều hành được hy vọng sẽ đưa Google thành trung tâm của kỉ nguyên IoT
Fuchsia – Hệ điều hành được hy vọng sẽ đưa Google thành trung tâm của kỉ nguyên IoT
Theo lời của Travis Geislebrecht, một thành viên trong dự án này (ông cũng đã từng làm việc trong các dự án của Palm, Apple…), dự án này sẽ sớm được thử nghiệm trên chiếc máy tính mini Raspberry Pi 3. Theo những dự đoán trước đó, Fuchsia có thể chạy trên tất cả mọi thiết bị từ các thiết bị thông tin giải trí trên những chiếc xe hơn cho tới các thiết bị nhúng như đèn giao thông hay đồng hồ kĩ thuật số và tất nhiên là cho cả các thiết bị điện thoại di động, máy tính cá nhân.

Fuchsia được dự đoán có thể chạy trên nhiều nền tảng. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, người ta trông đợi một hệ điều hành thay thế hoàn toàn Android và Chrome OS hay có khả năng hoạt động hiệu quả hơn trên những thiết bị nhỏ và tốn ít năng lượng như đồng hồ đeo tay Android Wear.

Không biết chắc liệu trong tương lai dự án này sẽ đi tới đâu, một hệ điều hành đáng mơ ước sẽ ra đời hay nó sẽ lặng lẽ biến mất giống như dự án Skunkworks, nhưng nó sẽ là tiền đề cho Google cũng như những tổ chức khác xây dựng lên một hệ điều hành cho riêng thế giới hiện đại đang có sự kết nối mạnh mẽ, nơi mà tất cả mọi thứ đều là những chiếc máy tính có tiềm năng kết nối và làm việc cùng nhau.

Tham khảo: Techcrunch.com

Ứng dụng hay, Sách bí quyết thành công


Tự hỏi làm thế nào để thành công trong cuộc sống? Để đi đến thành công nhanh nhất bạn cần bước đi ngay. Ứng dụng Bí quyết thành công luôn đồng hành cùng bạn.
Ứng dụng tốt cho Android với đầy đủ các tính năng cho người sử dụng. Ứng dụng bao gồm:
- Những bí quyết giao tiếp tốt: Trò chuyện với bất cứ ai, ở bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào LARRY KING những bí quyết giao tiếp tốt
- Những bí quyết thành công trong cuộc sống thông qua các câu truyện của những con người nổi tiếng trên thế giới.
- 8 quy tắc để thành công trong cuộc sống
Chúc các bạn thành công

https://play.google.com/store/apps/details?id=com.apps1pro.biquyetthanhcong

Hướng dẫn kiếm tiền online với Adf.ly [MMO]

Bạn có sở hữu Blog hoặc website, bạn là người thích chia sẻ! Bạn thưỡng xuyên upload, post ảnh, nhạc, phần mềm thậm chí là có blog hay website riêng. Bạn thưởng gửi hoặc chia sẽ những gì bạn có hay bạn thấy trên mạng cho người khác… Nhất là những vấn đề “hot” nhất. Vậy sao ko… kiếm tiền từ những việc làm đó. Rất đơn giản với AdF.ly – đây là site rút gọn link uy tín nhất hiện này về hình thức rút gọn link này. Bạn có thể xem bảng tính tiền của Adf.ly tại đây:


AdF.ly là gì ?

AdF.ly là họ sẽ làm link của bạn nhỏ lại cho dễ nhìn và gọn hơn và bạn sẽ có thể kiếm tiền từ link này:

Đây là link gốc (khá dài): http://kiem-tien-online-tai-nha.blogspot.com/search/label/MMO  => rút gọn thành http://adf.ly/PfFhw.

Khi người nào click vào link của bạn và nhấn SKIP AD  tới link gốc thì bạn sẽ kiếm được tiền.
Hình thức cũng khá đơn giản, bạn chỉ cần nhập đường dẫn (URL) vào AdF.ly và sau đó AdF.ly sẽ cho bạn một đường dẫn mới khá ngắn gọn của AdF.ly , đường dẫn này khi truy cập sẽ dẫn đến đường dẫn gốc mà bạn đã add vào để rút gọn trước đó.  $4.00/1000 visitors to your links.

Sau khi rút gọn thật dễ dàng để đưa vào bài viết và chia sẻ với mọi người, rất đơn giản. Còn tuyệt vời hơn thế nữa khi bạn còn được trả tiền nếu mọi người click vào link đó. Vì vậy đây là một cáchkiếm tiền khá hay và hiệu quả, đặc biệt với bạn nào có website, blog, facebook hay forum…

Sau đây là hướng dấn chi tiết các bạn cách đăng ký và sử dụng AdF.ly

Chú ý: Bình thường bạn cũng có thể rút ngắn link trên trang chủ AdF.ly nhưng chỉ khi bạn đăng nhập và rút ngắn link thì link đó mới được tính tiền


1. CLICK để bắt đầu đăng ký tài khoản riêng cho mình!

2. Trang chủ AdF.ly hiện ra bạn click vào “Join Now”.

3. Điền đầy đủ thông tin đăng ký của bạn như trong hình.


Nếu mọi thông tin bạn điền hợp lệ sẽ có thông báo đăng ký thành công và gửi mã kích hoạt tài khoản qua 1 email được gửi vào hòm thư bạn đã dùng để đăng ký. (Bạn chỉ cần vào mail đó click vào link và điền mã kích hoạt là được).

4. Sau khi kích hoạt thành công bạn có thể đăng nhập và sử dụng AdF.ly



5. Bây giờ bạn có thể rút ngắn link và chia sẻ với mọi người tại khung trên cùng của website. Sau khi đăng nhập thì bạn lấy link cần rút gọn, dán vào và nhấn Shrink!



Link rút gọn rất dễ nhớ, bạn chỉ việc copy và gửi cho mọi người, khi có người ghé thăm là bạn có tiền. Link càng ”hot” thì thu nhập càng nhiều.

Lượt view + giá tiền sẽ được tính theo từng Nước. Cụ thể là các bạn xem tại địa chỉ http://adf.ly/advertising.php.



Cũng tại trang này bạn có thể xem thông tin về số lượt click vào link, số tiền bạn đang có hoặc cả thống kê các Quốc gia đã click vào link của bạn ở khung ngay bên dưới.

6. Khi bạn đủ điều kiện thanh toán (kiếm được 5$) bạn có thể yêu cầu rút tiền. Click vào Withdraw

Điền email của paypal hoặc alertpay và rút tiền! (nếu bạn chưa có tài khoản paypal hoặc alertpaythì xem hướng dẫn đăng ký tại đây Paypal Alert Pay)
Adf.Fly chấp nhận thanh toán qua Arlet Pay và Paypal, tự động thanh toán cho bạn vào thứ 2 đầu tuần và tối thiểu là 5$ hoặc nhiều hơn.

Chúc các bạn thành công!

Bài viết đọc nhiều